Truyện ngắn

Thôi đành lạc mất

Thứ Tư, 25/05/2016 | 16:48 G5T+7

Ngày ông Sáu đuổi Nguyệt ra khỏi nhà, hàng điệp già úp mặt xuống dòng sông lặng lẽ. Từng cánh điệp vàng chơi vơi trong gió như khóc tiễn Nguyệt bước theo cuộc tình trẻ dại.

Nguyệt là đứa con gái mà ông Sáu hết mực yêu thương, nhưng lỡ có tình ý với anh Chơn làm thợ hồ cho một công trình xây dựng ở chợ. Ông Sáu không thuận lòng, bởi anh Chơn là chàng thanh niên không nhà không cửa. Công trình chuyển đến đâu thì anh đi đến đó, lấy anh liệu có tương lai gì. Lại thêm cái tính trăng hoa, đi nhiều nơi anh cũng đã ươm tình với nhiều cô gái. Nhưng được cái miệng ăn nói dẻo đeo, khi cười đôi mắt nheo nheo mà Nguyệt thương hết lòng hết dạ. Đến khi thấy cái eo thon thả của Nguyệt đã có một hình hài nhô nhô trong áo, cơn giận của ông Sáu trào lên thì một nhát dao phay chém phập gốc cột nhà đã đứt nghĩa tình cha con. Vết dao trên cây cột cạn èo mà hằn lên một nỗi đau trong lòng người sâu hoắm. Nguyệt cúi xuống, dập đầu lạy ông 3 lạy như vừa tạ ơn, vừa tạ tội rồi xách giỏ đồ đi dọc bờ sông. Dáng chị chấp chới trong trời chiều tắt nắng rồi khuất vào đám dừa nước quanh co uốn lượn bờ sông nối dài ra chợ. Không biết ngọn gió mùa nào mà đám dừa nước cứ lao xao một nỗi buồn tan tác.

Nguyệt ra chỗ công trình xây dựng chợ tìm anh Chơn. Gặp chị, ảnh mừng lắm, vội vàng xin anh Thiện chủ thầu cho Nguyệt ở lại làm chị nuôi. Anh Chơn như vậy cũng là người có tình, đã chấp nhận yêu thương thì phải cố gắng dắt dìu nhau đi qua đoạn đường gian khó. Nhưng ai ngờ, cái tình của anh chỉ đi qua được vài tháng ngắn ngủi, hôm cuối tháng anh Chơn nhận tiền lương rồi trốn chị đi mất. Nguyệt như cánh chim cô đơn, lạc lõng giữa bầu trời, chênh vênh và vô định. Khi đau khổ tận cùng, Nguyệt muốn chết đi nhưng trong bụng chị giờ đây đã có một hình hài đang cựa quậy, những cái đạp chòi đòi sống để yêu thương. Nguyệt chợt nhớ ba mình, chị muốn ngược về nhà quỳ dưới chân ông dập đầu tạ tội nhưng liệu ông Sáu có thứ tha, hay về để làm đau ông thêm một lần nữa, rồi nếu lỡ anh Chơn quay lại tìm chị rồi sao. Thấy tình cảnh Nguyệt, anh Thiện khuyên: “Thôi thím về nhà với ông Sáu đi, khi nào anh Chơn hồi tâm quay lại, tôi nhắn ảnh về nhà tìm thím. Đừng có lo!”. Nghe anh Thiện nói có lý nên chị quyết định về nhà. Nhưng khi bước qua hàng điệp già chỉ còn vài bông cuối mùa nở muộn, hai hàng nước mắt của Nguyệt lăn dài khi nhìn trên cột nhà còn hằn một vết dao, bỗng dưng lòng nhiều lo sợ, Nguyệt lo khi phải đối mặt với ánh mắt phừng phừng cơn giận, sợ lòng cha già sẽ quặn cơn đau. Rồi bước chân Nguyệt run rẩy, chạy loạng choạng về phía bến đò.

Thấy Nguyệt quay lại công trình, tụi nhỏ phụ hồ mừng ríu rít: “Chế Nguyệt về mình khỏi phải ăn cơm bụi, ăn cơm bụi hoài ngán thấy mồ!”. Anh Thiện định hỏi thêm gì đó nhưng thấy đôi mắt của chị đã đỏ hoe nên thôi. Anh Thiện đã ngoài 30 tuổi nhưng vẫn còn đơn thân. Ảnh là vậy, tuy ít nói và làm chuyện gì cũng lặng lẽ, lặng lẽ đến mức tưởng như ảnh rất khó gần, nhưng anh Thiện thường hay quan tâm người khác bằng tất cả sự chân thành. Đám phụ hồ chừng mười mấy hai mươi tuổi, mỗi đứa một hoàn cảnh đáng thương nhưng cũng may là gặp được anh. Thường ngày làm xong việc, chúng tản ra đi ăn cơm bụi ở chợ. Tối về tụm lại ngủ, có bữa đem chai rượu đế ra lai rai, ca vọng cổ chơi. Chuyện gì chứ, đờn ca vọng cổ thì là “nghề thứ hai” của anh Thiện. Trong đêm trăng, bóng anh nhòe nhòe giống bóng người nghệ sĩ dưới ánh đèn màu sân khấu. Không hiểu sao mỗi lần anh Thiện ca là Nguyệt buồn ra mặt…

Anh Thiện nhận làm công trình ở đâu thì dời nhà theo ở đó. Nói là nhà cho có phần ấm áp chứ kỳ thực chỉ mấy miếng thiếc cũ, vài miếng cao su bạc màu, thêm ít cây tràm... Nhưng từ hồi có chị, anh Thiện làm riêng một gian nhỏ đủ để cái giường, có thêm cái sào treo quần áo. Chị may thêm cái màn the treo ngay cửa nhìn cũng xinh xinh. Đến ngày chị sinh bé Vui, cũng nhờ một tay anh Thiện nuôi nấng. Thấy anh chu đáo ân cần, mấy bà già đi nuôi con gái nằm kế bên khen: “Cái thằng hiền lành, dễ thương hết sức”. Nước mắt Nguyệt chảy dài xuống gối, chị thầm ước: “Phải chi…”. Không! Người đàn ông kia chỉ có thể cho con chị một tiếng gọi bằng chú, cho chị một sự quan tâm để rồi chị luôn mặc cảm, luôn nghĩ mình đang mắc món nợ ân tình. Để rồi đêm đêm có hai tâm hồn nghĩ lạc nên tiếng đờn Thiện càng thêm buồn da diết.

Rồi một hôm Nguyệt nói muốn về thăm nhà vì chị nhớ ba, dù lần này ông Sáu có tha thứ hay không chị cũng dẫn bé Vui về cúi đầu xin lỗi ông. Vả lại bé Vui cũng 3 tuổi rồi, chị cũng muốn cho nó đến trường chứ sống rày đây mai đó vậy hoài tội nghiệp. Còn anh Chơn chắc gì quay lại, biển người mênh mông thôi đành lạc mất. Anh Thiện ngồi ngó mặt ra sân nhìn đám nhỏ trộn hồ, gió cuốn vào đống cát tung bụi mịt mù, gạch đá nằm chơ vơ trong nắng. Anh thấy có vạt sương giăng qua mắt lòe nhòe. Anh “ờ”. Tiếng ờ nghe nhẹ thỏm mà nặng trĩu nỗi buồn. Đêm đó, Thiện ôm cây đờn, dạo lên vài phím rồi thinh lặng. Nguyệt cũng không sao ngủ được, chị nhìn ra khoảng đất trống thấy bóng Thiện ngồi cong cong với điếu thuốc trên tay lúc lập lòe ánh lửa, lúc cháy hiu hiu, lâu lâu có một tiếng thở dài, khói thuốc bảng lảng từng dòng nhòe nhòe như hư ảo.

Thiện ngồi đó đôi mắt buồn rười rượi, không biết ngày mai Nguyệt đi anh có nói được gì không? Nhưng chắc chắn anh nhớ mãi nụ cười phụng phịu của bé Vui, nhớ ánh nhìn đăm chiêu của Nguyệt, nhớ những bữa cơm ăn trên nền gạch đầy cát mà vui. Không biết lần này Nguyệt đi rồi có quay lại nữa không? Sao anh nghe  nhói ở lòng bởi linh cảm một điều gì sắp vụt mất khỏi vòng tay. Tự nhiên anh cất giọng hò: “Hò ơ... ví dầu nhà dột cột xiêu/ Muốn đi nói vợ, sợ nhiều miệng ăn/ Nhiều miệng ăn rằng anh không sợ/ Sợ duyên nợ không tròn gieo khổ cho nhau...”. Thôi đành lạc mất… Nguyệt ơi!

CẨM THI

Viết bình luận mới
thăm dò ý kiến

Theo bạn, điều gì có thể giữ chân và thu hút người tài vào khu vực công?

THÔNG TIN CẦN BIẾT
Nắng mưa đan xen.