Y tế - Sức khỏe

Bệnh bạch hầu: Nguyên nhân và triệu chứng

Thứ Hai, 29/06/2020 | 17:04

Bạch hầu là một tình trạng nhiễm vi khuẩn, có thể được ngăn ngừa bằng chủng ngừa. Tình trạng nhiễm trùng ở đường thở trên hay vùng mũi hầu tạo nên lớp màng xám, mà khi hiện diện tại vùng thanh quản hay khí quản có thể gây ra thở rít và tắc nghẽn. Bị ở mũi có thể làm trẻ chảy máu mũi. Độc tố bạch hầu gây liệt cơ, viêm cơ tim, dẫn đến tử vong.

Khuyến cáo phòng bệnh bạch hầu của Bộ Y tế.

Hiện nay đã có thuốc điều trị bệnh bạch hầu, tuy nhiên trong giai đoạn tiến triển, có thể gây hại cho tim, thận và hệ thần kinh của người bệnh. Ngay cả khi điều trị, bệnh bạch hầu có thể gây tử vong với tỷ lệ 3%, tỷ lệ này còn cao hơn ở trẻ em dưới 15 tuổi.

Nguyên nhân và triệu chứng

Vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae là nguyên nhân gây bệnh bạch hầu. Các dấu hiệu và triệu chứng bạch hầu thường bắt đầu từ 2 - 5 ngày sau khi bị nhiễm bệnh như: Giả mạc hai bên thành họng có màu trắng ngà, xám, đen, dai, dính, dễ chảy máu; đau họng và khàn giọng; sưng hạch bạch huyết ở cổ; khó thở hoặc thở nhanh; chảy nước mũi; sốt và ớn lạnh…

Ở một số người, nhiễm vi khuẩn bạch hầu chỉ gây ra các triệu chứng bệnh nhẹ hoặc không có dấu hiệu và triệu chứng rõ ràng nào cả. Những người bị nhiễm bệnh nhưng vẫn không biết về căn bệnh của mình được gọi là người mang bệnh bạch hầu (carriers of diphtheria), bởi vì họ có thể lây truyền bệnh cho cộng động mà không có triệu chứng bị bệnh.

Một loại bạch hầu thứ hai có thể ảnh hưởng đến da với triệu chứng đau, đỏ và sưng, loét bao phủ bởi một màng màu xám ở vùng hầu cũng có thể phát triển trong bệnh bạch hầu trên da (cutaneous diphtheria). Bệnh này phổ biến hơn ở vùng khí hậu nhiệt đới, đặc biệt là ở những người có vệ sinh kém, sống trong điều kiện đông đúc.

Nếu không được điều trị, bệnh bạch hầu có thể dẫn đến: Vấn đề về thở. Vi khuẩn gây bệnh bạch hầu có thể tiết độc tố và độc tố này gây tổn thương mô ở khu vực nhiễm trùng ngay lập tức - thường là mũi và cổ họng. Tại vị trí đó, nhiễm trùng tạo ra một màng cứng màu xám bao gồm các tế bào chết, vi khuẩn và các chất khác. Màng này có thể cản trở hô hấp.

Bên cạnh đó là đau tim. Độc tố bạch hầu có thể lây lan qua dòng máu và làm tổn thương các mô khác trong cơ thể, chẳng hạn như cơ tim, gây ra các biến chứng như viêm cơ tim. Tổn thương tim do viêm cơ tim có thể nhẹ, biểu hiện là những bất thường nhỏ trên điện tâm đồ hoặc nghiêm trọng dẫn đến suy tim sung huyết và đột tử.

Không chỉ vậy, bệnh còn có thể làm tổn thương thần kinh. Điển hình là dây thần kinh ở cổ họng gây khó nuốt, nếu ở cánh tay và chân cũng có thể bị viêm, gây yếu cơ. Nếu độc tố Corynebacterium diphtheriae làm tổn thương các dây thần kinh giúp kiểm soát các cơ hô hấp, các cơ này có thể bị tê liệt.

Về điều trị, hầu hết những người mắc bệnh bạch hầu đều sống sót sau những biến chứng này, nhưng quá trình phục hồi thường chậm. Bạch hầu gây tử vong khoảng 3% ở những người mắc bệnh.

Đường lây truyền bệnh bạch hầu

Thông thường Corynebacterium diphtheriae nhân lên trên hoặc gần bề mặt của màng nhầy của cổ họng. Corynebacterium diphtheriae lây lan qua 3 con đường gồm:

Thông qua giọt nước trong không khí: Khi một người bị nhiễm bệnh hắt hơi hoặc ho sẽ phát ra một giọt nước có chứa mầm bệnh, những người ở gần đó có thể hít phải Corynebacterium diphtheriae. Bạch hầu lây lan nhanh chóng theo cách này, đặc biệt ở những nơi đông người.

Thông qua vật dụng cá nhân chứa mầm bệnh: Một số trường hợp mắc bệnh bạch hầu từ việc chưa làm sạch các vật dụng mà người nhiễm bệnh đã sử dụng từ cốc uống nước chưa rửa của người nhiễm bệnh, hoặc tiếp xúc với các giấy ăn mà người bệnh đã sử dụng…

Đồ gia dụng bị ô nhiễm: Một số trường hợp hiếm hơn khi bị lây nhiễm bệnh bạch hầu thông qua các vật dụng dùng chung trong  gia đình, chẳng hạn như khăn hoặc đồ chơi.

Ngoài ra, người khỏe cũng có thể tiếp xúc với vi khuẩn gây bệnh bạch hầu khi chạm vào vết thương bị nhiễm trùng. Những người đã bị nhiễm vi khuẩn bạch hầu nhưng chưa được điều trị có thể lây nhiễm cho những người khỏe mạnh trong vòng 6 tuần - ngay cả khi họ không có bất kỳ triệu chứng nào.

Đối tượng có nguy cơ bệnh bạch hầu gồm: Trẻ em và người lớn không được tiêm vaccine bạch hầu; những người sống trong điều kiện đông đúc hoặc mất vệ sinh; bất cứ ai đi du lịch đến một khu vực đang có dịch bệnh bệnh bạch hầu.

Trúc Ly (tổng hợp)

Viết bình luận mới
thăm dò ý kiến

Theo bạn, điều gì có thể giữ chân và thu hút người tài vào khu vực công?

THÔNG TIN CẦN BIẾT
Có mây, ngày nắng, riêng miền Đông có nắng nóng, đêm không mưa. Gió đông bắc cấp 2-3.